Những năm 1980 khi đất nước đang rất khó khăn, ông Bình đã được mời sang Tây Đức làm việc. Sự lựa cuộc sống ở nước ngoài tương đối dễ dàng, nhưng ông nghĩ rằng không có nơi nào tốt hơn Việt Nam, mà ở Việt Nam thì phải ở Hà Nội, nơi ông đã lớn lên, nơi văn hóa, trí tuệ tinh túy của đất nước tụ hội, nơi ông cảm thấy “happy” hơn cả. Ông Bình kể với chúng tôi rằng, ông đã quan sát kỹ mặt trống đồng để cố gắng hiểu mật mã của quá khứ, và gọi nó là “một bộ gen được ghi nhận đơn giản về văn hóa người Việt, về triết lí sống người Việt. Ví dụ câu hỏi lớn nhất “hạnh phúc là gì?” Tôi thấy trên trống đồng vẽ một nhà mái cong, một người đàn ông, một người đàn bà, một đứa trẻ, một đấu gạo, trên nóc nhà có một con chim. Có thể thấy người Việt cổ quan niệm rằng, chúng ta là người hạnh phúc khi có một nơi để ở, có một gia để sống và có gạo để ăn. Kiểm nghiệm lại tôi thấy mình vô cùng hạnh phúc, đời tôi đã có một nơi ở, một gia đình và có gạo. Bất kể chuyện gì xảy ra đi chăng nữa, tôi thấy tự tin vô cùng để có thể mạo hiểm. Làm kinh doanh phải chấp nhận mạo hiểm. Nhưng dù mạo hiểm đến đâu đi chăng nữa tôi vẫn đã có một gia đình, có người yêu thương mình”.
Vừa rồi tôi đi thăm mấy nhà trọ của khu công nghiệp Bình Dương, thấy nhiều đôi trai gái đẻ con không đủ tiền nuôi, đem cho một cách thản nhiên. Một người đàn ông làm từ thiện phải than trời vì nhiều trẻ bị bỏ rơi đến nỗi ông nhận không xuể. Cái ác phổ biến đến nỗi người ta không biết đó là ác nữa. Nếu chỉ nhìn những khu công nghiệp hào nhoáng, làm sao thấy được những nhà trọ chật chội đầy trẻ con có cha mẹ mà vẫn mồ côi, những người công nhân cuộc sống ức chế, thiếu hụt nghiêm trọng cả về đời sống tinh thần, vật chất. Chứng kiến những điều đang diễn ra, tôi đau lòng, giật mình. Chúng ta đâu cần phải hoành tráng, hào nhoáng, hãy phát triển từ từ để nâng cao trình độ dân chúng. Hoà nhập thế giới là chơi với người giỏi hơn mình, nếu không vững sẽ rất dễ bị áp đặt luật chơi của họ. Trong xã hội chỉ có một bộ phận theo kịp, nhưng dân chúng thì bị thiệt thòi rất nhiều. Bất ổn từ đó mà sinh ra. Vong bướm cảnh tỉnh con người đừng rời bỏ thiên nhiên, hãy quay trở về với cái gốc gác làng quê của mình. Văn học như cái phanh, làm cho con người sống chậm, sống tử tế hơn.
Có lẽ cảm hứng cốt tử của một vở chèo (và của mọi hình thức nghệ thuật nói chung chăng?) chỉ là đề cao tính chất thường và vô thường trong mọi sự đời mà thôi. Sâu xa hơn nữa, những miếng trò quấy đảo của các diễn viên trong các vở chèo thậm chí còn muốn xoá nhoà đi mọi ranh giới thị phi, ném nụ cười vào bóng đêm mê man hỗn độn vô minh của đời sống làng quê bùn lầy nước đọng, biến việc to thành việc nhỏ, thành nhỏ hơn, thành nhỏ xíu, thành nhỏ tí, thành không chấp, thành vớ vẩn, thành cát bụi rồi thành vô thường. Có thế thì mới sống được, mới về nhà được, mới ngủ được để mỗi sớm mai lại dậy đi làm và đi “chiến đấu”! Chèo góp phần an ủi, là miếng cháo văn hoá tinh thần cho người ốm yếu, cho các thân phận thấp cổ bé họng, cho những kẻ hy sinh, nâng bước cho họ, hòng giúp cho họ vượt qua bể khổ trầm luân trong kiếp sống phù du vô cùng cay đắng. Chèo thực sự là một đặc sản văn hoá có một không hai của văn minh đồng bằng Bắc bộ Việt Nam. Chèo là một loại hình nghệ thuật gây cảm giác và truyền cảm giác rất hiệu quả. Nghệ thuật nào cũng vậy, nó sẽ chẳng là gì nếu nó chẳng góp phần truyền đến người ta cảm giác về sự sống đang sôi động ngoài kia, về “cái đang là”, buộc họ tìm hiểu đến ý nghĩa của cuộc sống đang sôi động đó, để xác định vị trí của mình, để hỏi rằng: “Ta là ai?
Con người Việt Nam ngày nay đi đâu không cảm giác có quê hương nữa. Xưa đi về thôn xóm làng mạc còn có gia đình, có ngôi đình, ngôi chùa, tự hào về quê hương mình, còn nay thế giới giao hòa, rồi toàn cầu hóa nữa, ở đâu cũng như ở nhà, làm con người mất đi quê hương, mất đi những giá trị nguồn cội của nó. Và điều đấy tưởng như là vớ vẩn nhưng thật kinh khủng. Mất quê hương là mất cội nguồn, mất đi giá trị văn hoá sống.
Ngày xưa Nguyễn Trường Tộ (1828 – 1871), sau khi đi xứ ở Tây về, đã tâu với triều đình vua Tự Đức là bên Tây có cái đèn treo ngược, không cần đổ dầu mà vẫn cháy sáng. Tự Đức đã cả giận, suýt xử trảm Nguyễn Trường Tộ vì tội “vọng ngữ khi quân” (tức nói láo phỉnh gạt nhà vua cùng triều đình), lại còn theo đạo Thiên chúa. Tội “phản động” rõ rành rành còn cãi vào đâu được nữa? Nguyễn Trường Tộ cũng là người đã từng nhận ra rằng “các nước phương Đông tuy là thủy tổ của bách nghệ, nhưng họ có tính đam mê an lạc, không thích thực hành“. Kết quả là ở Âu-Mỹ (hay ở … Nhật Bản) thì người ta đã sáng tạo ra (và dễ chấp nhận) cái đèn treo ngược, còn ở ta thì, tuy cuối cùng cũng thích xài từ đèn treo ngược, đến TV, digital camera, xe xịn cỡ Rolls-Royce Phantom, và cả violon, cello, piano, v.v. nhưng nhận thức thì vẫn le lói như ngọn đèn dầu năm nào
Nguyễn Ngọc Tư là trường hợp đặc biệt. Ở dưới miền quê đó thì giống như một chiếc đũa trong bó tăm thì người ta mới để ý thôi chứ ngang ngang như Nguyễn Ngọc Tư ở TPHCM hay Hà Nội đầy nhưng có ai đụng tới đâu. Bởi nó không có chất đặc sản. Đó là nhu cầu của xã hội bạn ạ! Giá trị xã hội không phải là giá trị duy nhất. Đó là cái giá trị mà xã hội cảm thấy có thể lợi dụng được. Như bạn cũng thấy những người như Nguyễn Ngọc Tư ở nơi khác cũng có nhưng ở miền Tây tỷ lệ học vấn rất thấp, tự nhiên có một cô như thế thì họ đưa lên thôi. Thực sự càng về sau cô ấy viết ngày càng dở. Những cái hồn nhiên nhất, chắt lọc nhất thì ở lần đầu tiên rồi, sau này chỉ nối dài ra thôi.
Thói quen nói năng đúng giáo điều mà không cần hiểu thấu đáo dẫn tới hệ luỵ là hình thành thói quen chấp nhận, tư duy thụ động, không muốn lật lại nghĩa lý của câu chữ, khái niệm và lập luận khi tiếp nhận văn bản.
…tôi luôn tin rằng internet là một điều mới mẻ với tất cả các chính phủ, chứ không riêng gì chính phủ TQ đâu. Và là một doanh nhân, công việc của anh không phải là nhận việc từ chính phủ, mà là phải đi gặp họ, giải thích internet là gì, thương mại điện tử là gì, anh có thể giúp đỡ được gì. Thế nên một phương châm nữa tôi tự đưa ra cho mình là ‘Yêu chính phủ thì được, đừng cưới người ta làm gì’ – tức là có thể nói, giảng giải cho họ nhưng đừng làm ăn với họ…

“Về chủ quan, người Việt Nam không có truyền thống đem cả một dân tộc ra mà tự phê bình. Một trong những lý do vì sao như vậy cũng là ở chỗ, khi người ta đã suốt cả một số phận luôn luôn đội sổ thì lòng tự tin thực sự chẳng còn gì lớn lắm. Ðấy là tôi muốn nói đến một lòng tự tin thực sự, chứ không phải cái thứ tự tin theo kiểu vừa đánh võ mồm vừa run trong lòng, hoặc là thứ tự tin lưu manh, cứ kích nhau lên để hòng vụ lợi cho mình. Rõ ràng là tự phê bình đòi hỏi một lòng tự tin lớn. Tôi cứ nhìn cái cách tự tra vấn mình, tự hành hạ, tự truy tội, tự xỉ vả mình của một dân tộc như dân tộc Ðức này mà phải nhận ra rằng: phải là một dân tộc đã đạt được nhiều thành tựu đến mức nào mới dám làm cái việc cũng rất ư quí phái là tự phê bình mình như vậy… Vậy dân tộc Việt trọn gói thì không có lỗi gì đáng kể, nhưng một bộ phận, bộ phận đầu sỏ của nó thì bao giờ cũng luôn luôn là đầu mối của mọi tai họa. Bộ phận đó, như chúng ta thường xuyên được nghe nói, bao giờ cũng là chính quyền, là lực lượng thống trị… Lúc thì chính quyền Bắc thuộc, lúc thì là vua quan nhà Nguyễn chịu trách nhiệm, lúc thì chính quyền thực dân Pháp chịu trách nhiệm, lúc thì bè lũ Mỹ-ngụy. Và bây giờ, không có chính quyền nào khác hơn là chính quyền cộng sản, thì chính quyền cộng sản chịu trách nhiệm. Bảo đúng thì tất nhiên là đúng. Nhưng như vậy có kỳ cục lắm không? Chẳng lẽ trước năm 1945 nạn đói xảy ra là do phong kiến thực dân, còn bây giờ nạn đói xẩy ra là do cộng sản hay sao? Chẳng lẽ cái thói chạy chọt, vây cánh, cửa quan, cửa quyền, bợ đỡ… rất nổi tiếng từ thời cụ Ngô Tất Tố cũng tại cộng sản hay sao? Chẳng lẽ văn chương Việt Nam cả một thế kỷ 15 chỉ được một ông Nguyễn Trãi, cả một thế kỷ 16 hầu như cũng toàn nhạt nhẽo và trung bình cả thì cũng tại cộng sản hay sao? Một trong những nhà phê bình văn học sắc sảo nhất của Việt Nam ở hải ngoại, anh Nguyễn Hưng Quốc, hiện là giảng viên của trường Ðại học Victoria tại Úc, cách đây 10 năm có viết một cuốn sách nhan đề Văn Học Việt Nam Dưới Chế Ðộ Cộng Sản. Trong đó anh đi tìm câu giải thích cho tình trạng kém cỏi tẻ nhạt của văn học miền Bắc trong những vấn đề của chế độ xã hội chủ nghĩa và hệ thống lý luận mác-xít. Ðiều đó tất nhiên có nhiều phần đúng, nhưng chưa đủ. Những năm sau này anh Nguyễn Hưng Quốc đi đến một nhận xét hết sức khổ tâm là văn học Việt Nam ở hải ngoại tồn tại ở các chế độ dân chủ, tự do, hoàn toàn không phải dính líu đến hệ lý luận mác-xít, hệ kiểm duyệt cộng sản, hoàn toàn không liên quan đến bộ máy tuyên truyền chính trị chính thống, nhưng cái văn học ấy cũng không khá gì hơn, cũng trì trệ, lạc hậu, bảo thủ và tẻ nhạt. Tất nhiên là tẻ nhạt theo một kiểu khác. Vậy lời đáp nằm ở đâu?

Việc phê phán cái xã hội nghèo đói, loạn tặc, nhiễu nhương, tạm bợ, không có phương hướng ở Việt Nam, tất nhiên có thể gắn với việc phê bình chính quyền lãnh đạo. Thế cái xã hội của người Việt ở ngoài nước, tại cộng đồng hải ngoại, không có mặt sự lãnh đạo của chính quyền cộng sản mà cũng đủ những phẩm tính tương tự thì chúng ta biết phê phán trên cơ sở nào? Rõ ràng có những vấn đề thuộc về văn hoá Việt Nam, những vấn đề nghiêm trọng, không thể qui vào một chính thể, tập đoàn hay đảng phái thống trị nào, nó là những hằng số xuyên suốt cả số phận dân tộc Việt Nam, bắt đầu thậm chí từ Lạc Long Quân, nếu như có ông ấy và bà Ấu Cơ. Và nếu đã mở hồ sơ văn hoá Việt Nam ra mà xét thì có thể nói là ở ngay trang đầu chúng ta đã gặp một thành phần không thể không gặp, đó là trí thức Việt Nam.”…

chúng ta đang ở trong giai đoạn giao thời và những chuẩn mực mới - cũ, trong đó có chuẩn mực về giới tính đang giằng co, lẫn lộn, những vấn đề về quyền con người của phụ nữ vẫn còn hết sức lạ lẫm. Chính trong giai đoạn này, vai trò của truyền thông càng phải mang tính định hướng, dẫn đường. Người làm truyền thông càng phải xác định quan điểm về bình đẳng giới một cách rõ ràng mạnh mẽ, chứ không phải chỉ là tiếng vọng của những chuẩn mực lỗi thời