Hãy nhớ noi gương chị bò cái già
Nàng hài lòng ngủ trong vựa lúa
Bạn phải ăn, ngủ và bài tiết
Đó là điều không thể tránh
Ngoài ra không việc gì đến bạn.
wild field: chúng ta đều cóchúng ta đều có những nỗi buồn dàimột, hai hay ba gang...

alltheriversrun:

chúng ta đều có

chúng ta đều có những nỗi buồn dài
một, hai hay ba gang tay

vào mùa xuân cây cối không ngủ được
bởi sự nhú mầm của chúng
cả bầu trời cũng mềm trở lại
mọc chi chít mưa

chúng ta đã lẩn tránh những cơn mưa đêm
không còn thử nhập thân vào không gian này
như bầy người xưa reo múa…

Những năm 1980 khi đất nước đang rất khó khăn, ông Bình đã được mời sang Tây Đức làm việc. Sự lựa cuộc sống ở nước ngoài tương đối dễ dàng, nhưng ông nghĩ rằng không có nơi nào tốt hơn Việt Nam, mà ở Việt Nam thì phải ở Hà Nội, nơi ông đã lớn lên, nơi văn hóa, trí tuệ tinh túy của đất nước tụ hội, nơi ông cảm thấy “happy” hơn cả. Ông Bình kể với chúng tôi rằng, ông đã quan sát kỹ mặt trống đồng để cố gắng hiểu mật mã của quá khứ, và gọi nó là “một bộ gen được ghi nhận đơn giản về văn hóa người Việt, về triết lí sống người Việt. Ví dụ câu hỏi lớn nhất “hạnh phúc là gì?” Tôi thấy trên trống đồng vẽ một nhà mái cong, một người đàn ông, một người đàn bà, một đứa trẻ, một đấu gạo, trên nóc nhà có một con chim. Có thể thấy người Việt cổ quan niệm rằng, chúng ta là người hạnh phúc khi có một nơi để ở, có một gia để sống và có gạo để ăn. Kiểm nghiệm lại tôi thấy mình vô cùng hạnh phúc, đời tôi đã có một nơi ở, một gia đình và có gạo. Bất kể chuyện gì xảy ra đi chăng nữa, tôi thấy tự tin vô cùng để có thể mạo hiểm. Làm kinh doanh phải chấp nhận mạo hiểm. Nhưng dù mạo hiểm đến đâu đi chăng nữa tôi vẫn đã có một gia đình, có người yêu thương mình”.
…tôi nghĩ phía sau thiên nhiên đã được thuần hoá vẫn lầm lũi một thiên nhiên khác, đích thực, mà chúng ta gần như đã lãng quên - ở thời khắc giữa đêm băng giá này, những con cá voi và hải mã vẫn bơi lặn dưới những tảng băng trôi của Biển Bắc, trên những cánh đồng tuyết phủ, những chú gấu Bắc cực vẫn mải mốt săn mồi dưới ánh trăng, và tất cả đều phi thời gian, không có niên lịch, không có Giáng sinh và cũng không có lý do để hi vọng một lúc nào những sự việc ấy sẽ thay đổi. Ở đâu đó vẫn còn cõi vô biên, thật sự lạnh và thật sự nóng, và có thể có cả những con người hợp với nó…
Những nhà văn sắc sảo không nương tay với con người, và con người cũng không mấy nương tay với các nhà văn…
Ta đặt Mi giữa thế gian, để cho Mi có thể tự do nhìn ra khắp mọi phía của thế giới và nhìn đi đâu tùy ý của Mi. Ta tạo ra mi không phải trần tục, không phải thượng giới, không phải loài có sinh có tử, không phải bất tử. Bởi vì Mi tự Bản thân mình, phù hợp theo ý chí của Bản thân mình và theo danh dự, có thể là Đấng sáng tạo và Người tạo tác của chính mình và từ vật liệu thích hợp cho Mi mà hình thành nên Bản thân mình. Như vậy, Mi tự do trong việc đi xuống thấp tới những thang bậc thấp kém nhất của thế giới thú vật, thế nhưng Mi cũng có thể nâng cao Bản thân mình lên tới phạm vi cao cả nhất của Thần thánh

Thuật luyện vàng chân chính là tia lửa trong con người bắt đầu tác động đến những hạt mầm chứa trong các nguyên tố, giải phóng chúng, chuyển hóa và nâng chúng lên. Những nhân tố được giải phóng quay trở lại tác động vào con người và lúc đó nâng con người lên một cấp độ cao hơn.

Con người một lần nữa lại tác động vào vật chất, và vật chất tác động trở lại con người, cứ như vậy tiếp tục: thánh thiện hóa lẫn nhau, tinh tế hóa, trong sạch hóa, chuyển hóa, hưng phấn hóa và đông đặc hóa lẫn nhau. Nơi nào vật chất mềm, cần cứng rắn hóa, nơi nào vật chất cứng, cần làm nóng chảy. Vật chất luôn luôn vẫn là vật chất, nhưng trong ý nghĩa và tầm quan trọng của nó luôn luôn mang ý nghĩa và tầm quan trọng tinh thần.

Bởi vì sau cùng, vật chất và nguyên tố không nằm chết cứng ở các mỏ, các dãy núi mà là các bộ phận sáng tạo tích cực ra thế gian, hay nói cách khác, là thứ tạo dựng nên các dãy núi, dòng sông, thức ăn, các công cụ, các vì sao và con người.

Nguyên tố đã được tinh khiết hóa và thiêng linh hóa không biến mất khỏi thế gian, chúng tụ lại từ một nơi vô hình và tỏa tác động. Chúng phản chiếu: sưởi ấm, soi sáng, tinh lọc. Nguyên tố đã được tinh khiết hóa biến thành asa-điều thiện, thành bản thể thiên đường hóa, xuất hiện trên trái đất, trước hết ngay trong con người, nhưng không như một niềm hạnh phúc và cảm hứng cá nhân mà như sự hiện diện của sự sống thời hoàng kim.

Con người vốn chất phác, chỉ vì các ông thánh của Khổng, Mặc ra những giá trị giả tạo (hiền và bất hiền, quý và tiện, danh với lợi), gợi là ham muốn của dân, rồi dạy cho họ khôn lanh hơn nữa, thì làm sao không sinh ra loạn? Khi loạn rồi, họ đưa ra đức nhân để sửa (như Khổng), sửa không được họ dùng tới quan niệm nghĩa (như Mạnh), thất bại nữa, họ đề cao lễ (như Tuân), hết lễ tới pháp, thuật (Hàn Phi). Hiện nay khắp thế giới đâu đâu cũng dùng thuật và sức mạnh. Các phương tiện bọn triết gia và chính trị gia dùng mỗi ngày một mạnh lên và mà kết quả là xã hội càng loạn, nhân loại càng sa đọa
…Những người bản xứ, người châu Phi hiểu thời gian theo cách khác. Đối với họ thời gian là một khái niệm lỏng lẻo, rộng mở, mềm dẻo và chủ quan hơn nhiều. Là con người có ảnh hưởng đến sự hình thành của thời gian, đến dòng chảy và nhịp điệu của nó (tất nhiên, con người hành động với sự đồng ý của tổ tiên và thánh thần). Thời gian thậm chí còn là thứ mà con người có thể tạo ra, ví dụ sự tồn tại của thời gian được biểu hiện qua một sự kiện, mà sự kiện có xảy ra hay không là phụ thuộc vào con người. Nếu hai đạo quân không tham chiến thì trận đánh sẽ không xảy ra (nghĩa là thời gian không thể hiện sự có mặt của mình, sẽ không tồn tại).
Thời gian xuất hiện như là kết quả hành động của chúng ta, và biến mất khi ta sao lãng hoặc không thực hiện nó. Đó là thứ chất liệu dưới ảnh hưởng của chúng ta luôn luôn có thể sống dậy, nhưng sẽ rơi vào trạng thái hay thậm chí là trạng thái không tồn tại nếu ta không truyền sinh lực của ta cho nó. Thời gian là một thực thế thụ động, bổ trợ, và quan trọng nhất-phụ thuộc vào con người.
Hoàn toàn trái ngược với tư duy châu Âu.
Không có gì lạ lùng, khó xử hơn mối quan hệ giữa hai người chỉ biết mặt nhau - dù họ gặp gỡ, quan sát nhau mỗi ngày, có khi mỗi giờ, nhưng vì phép tắc xã giao bó buộc hay tính khí gàn dở thất thường mà vẫn buộc lòng làm bộ dửng dưng như người xa lạ, không chào không hỏi. . Giữa họ nảy sinh cảm giác hồi hộp, nỗi hiếu kì cao độ, sự bấn loạn vì nhu cầu tìm hiểu và trao đổi không được thỏa mãn, bị đè nén một cách thiếu tự nhiên, đặc biệt còn có phần nể trọng một cách căng thẳng. Vì một người chỉ yêu quý và tôn thờ người khác chừng nào họ chưa có khả năng phán xét về nhau, và khao khát tương tư là kết quả của sự hiểu biết không đầy đủ…